DIENOGEST 2 mg

RX  Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC

DIENOGEST 2 mg
(Hộp 02 vỉ x 14 viên nén)
Thông báo cho Bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
Để xa tầm tay trẻ em.
Nếu cần thêm thông tin xin hỏi ý kiến bác sỹ

Thành phần:

Thành phần hoạt chất: Dienogest: 2 mg.

Thành phần tá dược: Lactose, Microcrystalline cellulose, Magnesi stearat, Povidon K30, Natri starch glycolat, Natri croscarmellose, Tinh bột ngô (Corn starch), Cồn 960: vừa đủ 01 viên.

Dạng bào chế: Viên nén

Mô tả dạng bào chế: Viên nén tròn, màu trắng ngà, thành và cạnh viên lành lặn.

Chỉ định:

Điều trị lạc nội mạc tử cung.

Cách dùng, liều dùng:

– Dùng đường uống.

Chế độ liều

Người bệnh có thể bắt đầu uống thuốc Visanne vào bất cứ ngày nào của chu kỳ kinh nguyệt. Liều dùng của thuốc Visanne là một viên mỗi ngày mà không cần bất kỳ giai đoạn nghỉ nào, tốt nhất là uống cùng một lúc mỗi ngày với một lượng chất lỏng thích hợp. Người bệnh có thể uống thuốc cùng hoặc không cùng thức ăn và phải uống liên tục các viên, bất kể chảy máu âm đạo hay không. Khi uống hết một vỉ, nên bắt đầu ngay vỉ tiếp theo mà không có thời gian nghỉ gián đoạn.

Xử lý khi quên liều

Hiệu quả của thuốc Visanne có thể bị giảm trong trường hợp người bệnh quên uống thuốc, nôn mửa và/hoặc tiêu chảy (nếu xảy ra trong vòng 3-4 giờ sau khi uống viên nén). Trong trường hợp quên uống một hoặc nhiều viên, bạn cần uống một viên ngay khi nhớ ra và sau đó sẽ tiếp tục uống viên thuốc vào ngày hôm sau theo lịch trình bình thường. Không uống 2 viên trong cùng một ngày. Nếu nôn hoặc tiêu chảy trong vòng 3 – 4 giờ sau khi dùng thuốc, bạn hãy uống bổ sung một viên.

Thông tin bổ sung về các quần thể bệnh nhân đặc biệt

Trẻ em và thanh thiếu niên

Dienogest không được chỉ định ở trẻ em chưa có kinh nguyệt.

Tính an toàn và hiệu quả của Dienogest  đã được chứng minh trong nghiên cứu không đối chứng 12 tháng ở 111 nữ thanh thiếu niên (12<18 tuổi) được chẩn đoán xác định lạc nội mạc tử cung hoặc nghi ngờ về lâm sàng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng thuốc và Đặc tính dược lực học).

Bệnh nhân cao tuổi

Không có chỉ định sử dụng Dienogest trong quần thể bệnh nhân cao tuổi.

Bệnh nhân suy gan

Chống chỉ định dùng Dienogest ở bệnh nhân hiện tại hoặc tiền sử bị bệnh gan nặng (xem phần Chống chỉ định).

Bệnh nhân suy thận

Không có dữ liệu cho thấy cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.

Chống chỉ định:

Cũng như các chế phẩm chỉ có Progestogen khác, không nên sử dụng Dienogest khi có bất kỳ tình trạng nào được liệt kê dưới đây. Bất kỳ tình trạng nào xuất hiện trong quá trình sử dụng Dienogest, phải ngưng điều trị ngay lập tức.

– Bệnh lý thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tiến triển.

– Hiện có hoặc tiền sử có bệnh động mạch và tim mạch, (ví dụ như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, bệnh tim thiếu máu cục bộ)

– Đái tháo đường có biến chứng mạch máu

– Hiện có hoặc tiền sử  bị bệnh gan nặng, với chức năng gan chưa trở lại bình thường

– Hiện có hoặc tiền sử bị u gan (lành tính hoặc ác tính)

– Đã biết hoặc nghi ngờ bị các loại ung thư phụ thuộc hormon sinh dục

– Chảy máu âm đạo chưa được chẩn đoán

– Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào

Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng thuốc:

Vì Dienogest là chế phẩm chỉ chứa progestogen nên có thể xem những cảnh báo và thận trọng đặc biệt đối với việc sử dụng các chế phẩm chỉ chứa progestogen khác cũng có giá trị trong việc sử dụng Dienogest  mặc dù không phải tất cả những cảnh báo và thận trọng đều dựa trên những thử nghiệm lâm sàng của  Dienogest.

Nếu bất kỳ một trong những tình trạng/ yếu tố nguy cơ được đề cập dưới đây là hiện có hoặc xấu hơn, nên thực hiện phân tích rủi ro-lợi ích của từng yếu tố trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục điều trị bằng Dienogest .

• Các rối loạn tuần hoàn

Từ các nghiên cứu dịch tễ học, có rất ít bằng chứng về mối liên quan giữa các chế phẩm chỉ chứa progestogen và tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc thuyên tắc huyết khối não. Nguy cơ các tai biến tim mạch và não khá liên quan đến sự gia tăng tuổi, tăng huyết áp và hút thuốc. Ở phụ nữ bị tăng huyết áp, nguy cơ đột quỵ có thể tăng nhẹ bởi các thuốc chỉ chứa progestogen.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có thể tăng nguy cơ hơn một chút, nhưng không có ý nghĩa thống kê của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi) liên quan đến việc sử dụng các chế phẩm chỉ chứa progestogen. Nói chung các yếu tố nguy cơ được công nhận cho thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) bao gồm tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình bị VTE (VTE ở anh chị em hoặc cha mẹ ở độ tuổi tương đối sớm), tuổi tác, béo phì, bất động kéo dài, đại phẫu hoặc chấn thương nặng. Trong trường hợp bất động kéo dài, nên ngưng sử dụng Dienogest  (ít nhất bốn tuần trước trong trường hợp mổ chương trình) và không tiếp tục điều trị cho đến hai tuần sau khi vận động lại hoàn toàn.

Phải xem xét sự gia tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối trong giai đoạn sau sinh.

Nên dừng điều trị ngay lập tức nếu có những triệu chứng của một biến cố huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch hoặc nghi ngờ có những biến cố đó.

• Các khối u

Một phân tích gộp từ 54 nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có tăng nhẹ  nguy cơ tương đối (RR = 1,24) của việc chẩn đoán ung thư vú ở những phụ nữ hiện đang sử dụng thuốc tránh thai đường uống (OC), chủ yếu là các chế phẩm có estrogen-progestogen. Nguy cơ này dần dần giảm đi trong khoảng thời gian 10 năm sau khi ngừng sử dụng thuốc tránh thai đường uống phối hợp (COC). Do ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, sự tăng nguy cơ chẩn đoán mắc ung thư vú ở người hiện đang sử dụng và sử dụng gần đây COC là nhỏ so với nguy cơ tổng của bệnh ung thư vú. Nguy cơ có chẩn đoán ung thư vú ở người sử dụng thuốc chỉ có progestogen có thể có mức độ tương tự như nguy cơ của COC. Tuy nhiên, so với các COC thì chế phẩm chỉ có progestogen có bằng chứng dựa trên các mẫu dân số nhỏ hơn nhiều và do vậy là ít thuyết phục hơn. Những nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả. Kiểu gia tăng nguy cơ được  quan sát có thể là do việc chẩn đoán sớm ung thư vú ở người sử dụng OC, hoặc do các tác dụng sinh học của các OC hoặc kết hợp cả hai. Các trường hợp ung thư vú được chẩn đoán ở những người từng sử dụng có xu hướng ít tiến triển lâm sàng hơn so với các trường hợp ung thư được chẩn đoán ở người chưa bao giờ sử dụng.

Trong những trường hợp hiếm gặp như u gan lành tính và hiếm hơn nữa là u gan ác tính đã được báo cáo ở những người dùng các thành phần hormon như Dienogest . Trong một số trường hợp cá biệt, những khối u này dẫn đến xuất huyết trong ổ bụng đe dọa tính mạng. Một khối u gan nên được xem xét trong chẩn đoán phân biệt khi có đau nặng ở vùng bụng trên, gan to hoặc có các dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng xảy ra ở phụ nữ dùng Dienogest.

• Những thay đổi trong chảy máu kinh nguyệt

Điều trị Dienogest ảnh hưởng đến kiểu chảy máu kinh nguyệt ở đa số các phụ nữ ( xem Tác dụng không mong muốn).

Chảy máu nặng ở tử cung

Chảy máu tử cung, ví dụ như phụ nữ có lạc nội mạc trong cơ (bệnh cơ tuyến tử cung) hoặc u xơ tử cung, có thể trầm trọng hơn khi sử dụng Dienogest. Nếu chảy máu nặng và liên tục theo thời gian, có thể dẫn đến thiếu máu (mức độ nặng  trong một số trường hợp). Cần xem xét ngừng Dienogest trong trường hợp này.

• Thay đổi mật độ xương (BMD)

Việc sử dụng 2 mg Dienogest ở  bệnh nhân thanh thiếu niên (12 đến <18 tuổi) trên 12 tháng điều trị dẫn đến sự giảm sút mật độ xương (bone Minera Density – BMD) ở xương sống thắt lưng (L2-L4). Mức thay đổi  trung bình của mật độ xương từ lúc bắt đầu điều trị tới lúc kết thúc điều trị là – 1,2% trong khoảng giữa -6% và 5% (khoảng tin cậy IC 95%: -1,70% và -0,78%, n=103). Đo lại mật độ xương vào thời điểm 6 tháng sau khi kết thúc điều trị ở nhóm bệnh nhân bị giảm mật độ xương cho thấy có khuynh hướng hồi phục. (Thay đổi trung bình so với lúc ban đầu: –2,3 tai thời điểm kết thúc điều trị và – 0,6% tại thời điểm 6 tháng sau khi kết thúc điều trị với khoảng giữa -9% và 6% ( IC 95%: -1,20% và 0,06%, n=60). Giảm mật độ xương là điều đáng lưu tâm riêng cho đối tượng bệnh nhân thanh thiếu niên và đầu độ tuổi trưởng thành- giai đoạn then chốt của quá trình phát triển xương. Chưa biết liệu việc giảm mật độ xương ở những đối tượng này có làm giảm khối lượng xương tối đa và tăng nguy cơ gãy xương trong cuộc sống sau này hay không. (xem mục “Dược lực học”).

Trên những bệnh nhân có tăng nguy cơ loãng xương nên đánh giá cẩn thận nguy cơ-lợi ích trước khi bắt đầu điều trị Dienogest bởi vì nồng độ estrogen nội sinh giảm không nhiều lắm trong quá trình điều trị bằng Dienogest (xem mục “Dược lực học”).

Dùng đầy đủ Calcium và Vitamin D, trong khẩu phần ăn hay phần bổ sung, là yếu tố quan trọng cho sức khỏe xương ở phụ nữ tất cả cá lứa tuổi.

• Các bệnh lý khác

Những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm nên được theo dõi cẩn thận và ngừng thuốc nếu trầm cảm tái diễn với mức độ nghiêm trọng.

Nói chung, Dienogest dường như không ảnh hưởng đến huyết áp ở phụ nữ có huyết áp bình thường. Tuy nhiên, nếu tăng huyết áp đáng kể về mặt  lâm sàng vẫn tiếp tục diễn ra trong khi sử dụng Dienogest, nên ngừng sử dụng Dienogest  và điều trị tăng huyết áp.

Cần ngừng Dienogest khi có tái phát vàng da ứ mật và/hoặc ngứa mà hiện tượng này xảy ra lần đầu tiên trong quá trình mang thai hoặc đợt sử dụng trước đó  của các steroid sinh dục.

Dienogest có thể có một tác dụng nhẹ trên kháng insulin ngoại vi và dung nạp glucose. Phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là những người có tiền sử đái tháo đường thai kỳ, nên được theo dõi cẩn thận trong khi dùng Dienogest.

Sạm da đôi khi có thể xảy ra, đặc biệt ở những phụ nữ có tiền sử sạm da khi mang thai. Phụ nữ có xu hướng bị sạm da nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc bức xạ tia cực tím trong khi dùng Dienogest .

Nang buồng trứng kéo dài (thường được gọi là u nang buồng trứng chức năng) có thể xảy ra trong quá trình sử dụng Dienogest. Hầu hết các nang này không có triệu chứng, mặc dù một số có thể kèm theo đau vùng chậu.

Thăm khám y tế

Trước khi bắt đầu hoặc tái sử dụng Dienogest, cần biết toàn bộ bệnh sử và cần khám sức khỏe và khám phụ khoa theo định hướng bởi các chống chỉ định (xem Chống chỉ định) và các cảnh báo (xem Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) và những thăm khám này cần tiến hành định kỳ trong quá trình sử dụng Dienogest. Tần suất và các tính chất của những đánh giá này nên được điều chỉnh phù hợp với từng cá thể người phụ nữ nhưng nói chung nên bao gồm liên quan đặc biệt đến huyết áp, vú, các cơ quan vùng bụng và vùng chậu, và cũng nên bao gồm tế bào cổ tử cung.

Thận trọng liên quan tới tá dược lactose: Không dùng thuốc này cho những bệnh nhân có những vấn đề về di truyền liên quan đến không dung nạp galactose khiếm khuyết men Lapp lastase hay rối loạn hấp thu glucose- galactose.

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ mang thai

Có ít dữ liệu từ việc sử dụng dienogest ở phụ nữ mang thai.

Các nghiên cứu trên động vật và dữ liệu từ những phụ nữ tiếp xúc với Dienogest trong khi mang thai cho thấy không có nguy cơ đặc biệt trên mang thai, sự phát triển của phôi/thai, quá trình sinh nở hoặc quá trình phát triển sau khi sinh ở người. Tuy nhiên, không  nên dùng Dienogest cho phụ nữ mang thai vì không có nhu cầu điều trị lạc nội mạc tử cung trong khi mang thai.

Thời kỳ cho con bú

Không khuyến cáo điều trị bằng Dienogest trong thời kỳ cho con bú.

Các đặc tính hóa lý và dữ liệu trên động vật cho thấy Dienogest bài xuất trong sữa mẹ. Phải quyết định là ngừng cho con bú hoặc không điều trị Dienogest, có cân nhắc đến lợi ích của việc cho con bú đối với trẻ và lợi ích của điều trị đối với người phụ nữ.

Khả năng sinh sản

Dựa trên các dữ liệu có sẵn, sự rụng trứng bị ức chế ở phần lớn bệnh nhân trong khi điều trị bằng Dienogest. Tuy nhiên, Dienogest không phải là biện pháp tránh thai.

Nếu cần tránh thai, nên sử dụng phương pháp không có hormon (Xem Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng thuốc).

Dựa trên dữ liệu hiện có, chu kỳ kinh nguyệt trở lại bình thường trong vòng 2 tháng sau khi ngừng điều trị bằng Dienogest.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Chưa ghi nhận tác động lên khả năng lái xe và vận hành máy móc của sản phẩm chứa Dienogest.

Tương tác, tương kỵ của thuốc:

Lưu ý: Cần tham khảo thông tin kê đơn của các thuốc dùng cùng để xác định những tương tác thuốc có khả năng xảy ra.

Tác dụng của loại thuốc khác trên Dienogest

Progestins bao gồm Dienogest được chuyển hóa chủ yếu bởi hệ thống Cytochrome P450 3A4 (CYP3A4) nằm cả ở niêm mạc ruột và trong gan. Do đó, các thuốc gây cảm ứng hoặc ức chế CYP3A4 có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc Progestogen.

Tăng thanh thải các hormon sinh dục do cảm ứng enzym có thể làm giảm hiệu quả điều trị của Dienogest và có thể gây ra các tác dụng không mong muốn ví dụ như những thay đổi trong kiểu chảy máu tử cung.

Giảm thanh thải các hormon sinh dục do ức chế enzym có thể làm tăng mức độ tiếp xúc với Dienogest và có thể gây ra tác dụng không mong muốn.

– Các chất làm tăng thanh thải của hormon sinh dục (giảm hiệu quả bởi sự cảm ứng enzym), ví dụ: phenytoin, barbiturat, primidon, carbamazepin, rifampicin, và cũng có thể với oxcarbazepin, topiramat, felbamat, griseofulvin.

Sự cảm ứng enzym có thể quan sát thấy sau vài ngày điều trị. Sự cảm ứng enzym tối đa thường được quan sát thấy trong vòng một vài tuần. Sau khi kết thúc quá trình điều trị, sự cảm ứng enzym có thể tiếp tục duy trì trong khoảng 4 tuần.

Tác dụng của chất cảm ứng CYP 3A4 rifampicin được nghiên cứu trên người mãn kinh khỏe mạnh. Dùng chung rifampicin với viên nén chứa estradiol valerate/dienogest dẫn tới giảm đáng kể nồng độ ở trạng thái hằng định và nồng độ toàn thân của dienogest. Nồng độ toàn thân của dienogest và estradiol ở trạng thái hằng định, đo bởi AUC(0-24h), giảm tương ứng khoảng  83% và 44%.

– Các chất có ảnh hưởng khác nhau đến độ thanh thải của hormon sinh dục, ví dụ:

Khi dùng đồng thời với hormon sinh dục, nhiều chất ức chế protease HIV/HCV và chất ức chế sao chép ngược không phải  nucleoside có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ progestin trong huyết tương. Những thay đổi này có thể liên quan về mặt lâm sàng trong một vài trường hợp.

– Các chất làm giảm thanh thải hormone sinh dục ( chất ức chế enzym)

Dienogest là chất nền của cytochrom P450 (CYP) 3A4.

Sự tương quan về mặt lâm sàng của tương tác có thể xảy ra với các thuốc  ức chế men còn chưa biết.

Dùng cùng với các thuốc  ức chế mạnh CYP3A4 có thể làm tăng nồng độ huyết tương của Dienogest.

Chất ức chế CYP3A4 trung bình và  mạnh như các thuốc kháng nấm nhóm azole (ví dụ itraconazol, voriconazol, fluconazol), verapamil, các macrolide (ví dụ clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước ép bưởi có thể làm tăng nồng độ huyết tương của progestin.

Trong  nghiên cứu chứng minh tác động của các thuốc ức chế CYP3A4 (ketoconazole, erythromycin) lên thuốc phối hợp estradiol valerate/ dienogest, nồng độ huyết tương ở trạng thái hằng định của Dienogest tăng. Dùng cùng với thuốc ức chế mạnh ketoconazol làm tăng AUC (0-24 giờ) ở trạng thái hằng định của Dienogest lên 2,86 lần. Khi dùng cùng với thuốc ức chế vừa như erythromycin, AUC (0-24h) của Dienogest ở trạng thái hằng định tăng 1,62 lần. Sự liên quan về mặt lâm sàng của những tương tác này vẫn chưa được biết.

• Tác dụng của Dienogest  trên các thuốc khác

Dựa trên các nghiên cứu ức chế in vitro , không có tương tác có ý nghĩa lâm sàng của Dienogest với chuyển hóa qua trung gian enzym cytochrom P450 của  các thuốc khác.

• Tương tác thuốc – thức ăn.

Một bữa ăn nhiều chất béo được tiêu chuẩn hóa không làm ảnh hưởng đến sinh khả dụng của Dienogest.

• Các dạng tương tác khác

Việc sử dụng progestins có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, bao gồm các thông số sinh hóa của gan, tuyến giáp, tuyến thượng thận và chức năng thận, nồng độ trong huyết tương của (chất mang) protein, ví dụ: các thành phần của lipid/ lipoprotein, các thông số của quá trình chuyển hóa carbohydrate và các thông số đông máu và ly giải fibrin. Nói chung, những thay đổi thường vẫn nằm trong phạm vi giá trị xét nghiệm thông thường.

Tác dụng không mong muốn của thuốc:

Các tác dụng không mong muốn phổ biến hơn trong những tháng đầu tiên sau khi bắt đầu uống Dienogest 2 mg và giảm dần theo thời gian điều trị. Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được báo cáo ở những người dùng Dienogest 2 mg.

 Các tác dụng không mong muốn được báo cáo thường xuyên nhất trong quá trình điều trị, được đánh giá ít nhất là có liên quan đến Dienogest là nhức đầu (9,0%), khó chịu ở vú (5,4%), tâm trạng chán nản (5,1 %) và mụn trứng cá (5,1 %).

Ngoài ra, phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng dienogest 2 mg có thay đổi về kiểu chảy máu trong kỳ kinh nguyệt. Các kiểu chảy máu trong kỳ kinh nguyệt được đánh giá một cách hệ thống sử dụng nhật ký của bệnh nhân và được phân tích sử dụng phương pháp đánh giá của WHO trong giai đoạn 90 ngày đầu sử dụng nội tiết. 

Trong vòng 90 ngày điều trị với 2 mg Dienogest, các kiểu chảy máu sau được ghi nhận (n=290; 100%): Vô kinh (1,7%), chảy máu không thường xuyên (27,2%), chảy máu thường xuyên (13,4%), chảy máu không đều (35,2 %), chảy máu kéo dài (38,3%), chảy máu bình thường (24,2%), nghĩa là không thuộc loại nào trên đây (22,8%). 

Giảm mật độ xương: Trong nghiên cứu không  đối chứng trên 111 thanh thiếu niên nữ (12 tới < 18 tuổi) được điều trị với Dienogest, 103 bệnh nhân được đo mật độ xương. Khoảng 72% những người tham gia nghiên cứu này có mật độ xương thắt lưng (L2-L4) giảm sau 12 tuần sử dụng (xem Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng thuốc)

Quá liều và cách xử trí:

Các nghiên cứu độc tính cấp tính thực hiện với Dienogest đã không chỉ ra một nguy cơ tác dụng có hại cấp tính trong trường hợp vô ý uống một liều gấp nhiều lần liều điều trị hàng ngày. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Một lượng 20 – 30 mg Dienogest mỗi ngày (liều cao hơn 10 đến 15 lần so với 2 mg dienogest) trong 24 tuần sử dụng đều được dung nạp rất tốt.

Đặc tính dược lực học:

Cơ chế tác dụng

Dienogest tác động trên nội mạc tử cung bằng cách giảm sản xuất estradiol nội sinh và do đó ức chế tác dụng dinh dưỡng của estradiol trên cả nội mạc tử cung ở cả vị trí bình thường và lạc chỗ. Khi được dùng liên tục, dienogest tạo ra một môi trường nội tiết giảm estrogen, tăng progesteron gây phản ứng màng rụng  ban đầu của mô nội mạc tử cung, tiếp theo là teo những  tổn thương nội mạc. Các đặc tính bổ sung, như các tác dụng trên miễn dịch và chống tạo mạch, dường như góp phần vào tác dụng ức chế của Dienogest trên sự nhân lên của tế bào.

Tác dụng dược lực học

Dienogest là một dẫn chất nortestosterone không có hoạt tính androgen mà có hoạt tính kháng androgen tương đương khoảng một phần ba hoạt tính của cyproterone acetat. Dienogest liên kết với các thụ thể progesteron của tử cung người với chỉ 10% ái lực tương đối của progesteron. Mặc dù ái lực thấp với các thụ thể progesteron, dienogest có tác dụng progestogen mạnh in vivo . Dienogest không có hoạt tính androgen, mineralocorticoid hoặc glucocorticoid đáng kể in vivo.

Đặc tính dược  động học:

Hấp thụ

Dienogest dùng đường uống được hấp thu nhanh chóng và gần như hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh là 47 ng/ml đạt được sau khoảng 1,5 giờ sau khi uống liều duy nhất. Sinh khả dụng là khoảng 91%. Dược động học của dienogest tỷ lệ thuận với liều dùng trong khoảng liều 1 – 8 mg.

Phân bố

Dienogest liên kết với albumin huyết thanh và không gắn với globulin gắn hormone sinh dục (sex hormone binding globulin- SHBG) hoặc globulin gắn corticoid (corticoid binding globulin – CBG). 10% tổng nồng độ thuốc trong huyết thanh là hiện diện dưới dạng steroid tự do, 90% liên kết không đặc biệt với albumin.

Thể tích phân bố biểu kiến ​​(V d /F) của dienogest là 40 L.

Chuyển hóa/ Biến đổi sinh học

Dienogest được chuyển hóa hoàn toàn bởi những con đường đã biết của chuyển hóa steroid, với sự tạo thành các chất chuyển hóa phần lớn là không có hoạt tính nội tiết. Dựa trên các nghiên cứu in vitro và in vivo, CYP3A4 là enzym chủ yếu liên quan đến chuyển hóa của dienogest. Các chất chuyển hóa được bài xuất rất nhanh chóng, do vậy, trong huyết tương, dienogest dạng không đổi là phần chiếm chủ yếu.

Tốc độ thanh thải khỏi huyết thanh qua quá trình chuyển hóa Cl/F là 64 ml/phút.

Thải trừ

Nồng độ trong huyết thanh của Dienogest giảm theo hai giai đoạn. Pha cuối cùng được đặc trưng bởi thời gian bán thải khoảng 9-10 giờ. Dienogest được bài xuất dưới dạng các chất chuyển hóa được bài xuất qua nước tiểu và phân theo tỷ lệ khoảng 3:1 sau khi uống 0,1 mg/kg. 

Thời gian bán thải của quá trình bài xuất chất chuyển hóa qua nước tiểu là 14 giờ. Sau khi uống, khoảng 86% liều dùng được thải trừ trong vòng 6 ngày, phần lớn lượng này được bài xuất trong vòng 24 giờ đầu tiên, chủ yếu qua nước tiểu.

Trạng thái ổn định

Dược động học của Dienogest không bị ảnh hưởng bởi nồng độ SHBG. Sau khi uống hàng ngày nồng độ thuốc tăng khoảng 1,24 lần khi đạt được trạng thái ổn định sau 4 ngày điều trị.  Dược động học của Dienogest sau khi dùng liều lặp lại có thể được dự đoán từ dược động học liều duy nhất.

Dienogest 2 mg chưa được nghiên cứu cụ thể trên đối tượng suy thận, suy gan.

Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng

Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy cơ đặc biệt đối với người dựa trên các nghiên cứu thông thường về dược lý an toàn, độc tính liều lặp lại, độc tính trên gen, khả năng gây ung thư và độc tính trên sinh sản. Tuy nhiên, cần lưu ý là các steroid sinh dục có thể thúc đẩy sự phát triển của một số các mô và các khối u phụ thuộc hormon.

Quy cách đóng gói: Hộp 02 vỉ PVC/Alu x 14 viên nén và 01 hướng dẫn sử dụng.

 Điều kiện bảo quản: Nơi khô ráo, tránh ánh sáng. Nhiệt độ không quá 300C.

Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

Tiêu chuẩn chất lượng: TCCS

Tên và địa chỉ cơ sở sản xuất: Công ty Cổ phần sinh học dược phẩm Ba Đình.

KCN Quế Võ- xã Phương Liễu- huyện Quế Võ- tỉnh Bắc Ninh. SĐT: 0222.3634425